Tết quê xưa

Nổi lửa luộc bánh chưng. Ảnh: Bá Lục

Nhà tôi nằm trong một ngôi làng nhỏ ven con sông Cầu nước hiền hoà chảy. Hai bên bờ là những bãi phù xa màu mỡ khiến cây cối quanh năm xanh tốt. Ngôi làng mang dáng vẻ điển hình của những làng quê đồng bằng Bắc Bộ.

Ngày xưa quê tôi rất nghèo. Người dân trong làng một năm trồng hai mùa lúa và xen canh hoa màu. Mùa đông nơi đây rất lạnh, gió hun hút, những ngôi nhà xơ xác, mái rơm run rẩy không đủ che ấm cho người. Kinh tế chỉ trông vào ruộng lúa, luống khoai… đời sống vô cùng đạm bạc. Chỉ những ngày Tết thì mới được ăn no và ngon. Còn lại những tháng ngày khác trong năm là triền miên những ngô, khoai, khoai sắn.

Tết quê tôi ngày xưa vui lắm. Có lẽ cũng một phần vì nghèo khó, dân làng làm lụng cả năm khó nhọc nên dành dụm tất cả cho Tết để mong có ba ngày ăn no mặc ấm và tưởng nhớ tổ tiên. Chợ làng tôi năm ngày hai phiên. Nhưng năm nào chợ Tết cũng họp vào ngày 28 âm lịch, đó có lẽ là ngày vui nhất trong năm.

Chợ Tết quê tôi vô cùng nhộn nhịp, lá dong, gạo nếp, đỗ xanh bày bán rất nhiều. Ngày xưa còn đốt pháo, tiếng đì đùng của nó thúc giục lũ trẻ con nhanh chân đến chợ. Thịt lợn ngốn mắt, cá tươi từ dưới ao, gà trong chuồng lông mượt, ức vàng da đỏ rất hấp dẫn. Nhưng đông nhất vẫn là những bà hàng xén. Thôi thì đủ loại, từ quần áo, dép guốc đến cặp tóc, vòng tay, hoa lông gà và trăm thứ linh tinh khác. Trai gái trong làng xúm xít chọn lựa những chiếc áo may sẵn, cười đùa, hồn nhiên và trong trẻo.

Tụi trẻ con thì chỉ quấn lấy những hàng bán pháo; pháo tép, pháo cối đỏ rực được cuộn tròn trong túi ni lông, có những băng pháo dài hàng mét nhìn rất “khiêu khích” lũ trẻ. Thỉnh thoảng có đứa trẻ đốt quả pháo tép làm cả lũ giật mình cười sảng khoái.

Những bà mẹ thì tất tả với đủ loại để chuẩn bị cho Tết. Những thứ không bao giờ thiếu là lá dong, lá chít để gói bánh chưng, ống dang để về chẻ lạt buộc bánh, mo cau để gói giò, hai cây mía để thờ, một con gà cúng Tất niên. Trong cái thúng kẹp nách đi chợ, bao giờ cũng có rau húng, rau thơm, ớt tươi và vài quả chanh để bữa trưa ăn… lòng lợn.

Quê tôi có tục lệ thịt lợn vào sáng 29 Tết. Nhà nào giàu mà nuôi được lợn thì ăn cả con, nhà nào nghèo hơn thì chung nhau, mỗi nhà một “chân” nhưng ít nhất thì cũng phải từ hơn 10 kg trở lên để đủ dùng 3 ngày Tết.

Từ sáng sớm, tiếng lợn kêu ụt éc râm ran khắp xóm làng. Trẻ con cũng háo hức thức dậy cùng người lớn, chúng chạy loanh quanh xem chọc tiết lợn, làm lòng và thế nào cũng nài xin được cái bong bóng để thổi nghịch chơi. Tiết được hãm để làm dồi và… đánh tiết canh. Thịt được làm sạch sẽ, “pha” ra nong và sau đó phân ra từng loại: xương, nạc, mỡ… để dùng vào các món chế biến. Công đoạn quan trọng nhất của buổi giết lợn là… giã giò. Thịt nạc được thái nhỏ, cho vào cối đá và lúc nào cũng có hai thanh niên khoẻ mạnh giã tay, mỗi người một chày nhịp nhàng. Khoảng 10h sáng, tiếng giã giò chí chốp nghe thật vui tai. Giò được gói bằng những chiếc mo cau trắng nõn được ngâm, cọ rửa…. rất cầu kỳ. Bởi giò có ngon hay không phụ thuộc rất lớn vào cái… mo cau và lúc cho vào nồi để luộc.

Kết thúc buổi giã giò là bữa ăn “tiết canh, lòng lợn” không thể thiếu trong mỗi gia đình. Đó là bữa “ăn Tết” đầu tiên trong chuỗi ngày Tết. Sau đó, các mẹ các chị gánh gạo nếp, đỗ xanh đã xay, lá dong ra bờ sông để cọ rửa chuẩn bị cho việc gói bánh chưng.

Gói bánh chưng Tết là nét văn hoá đặc sắc ở quê tôi, mà nếu không có nó, sẽ không phải là ngày Tết. Từ sáng tinh mơ, các bà, các mẹ, các chị đã dậy thắp đèn gói bánh. Gạo nếp trắng tinh, đỗ xanh được đồ chín vàng ngậy, thị mỡ thái chỉ được ướp muối và rắc hạt tiêu thơm nức. Quê tôi không gói bánh chưng vuông mà làm bánh dài, nhiều nơi gọi là “bánh tét”. Lạt dang trắng tinh được đặt dưới mâm, lá dong đặt so le và trên cùng là lá chít. Sở dĩ phải đặt lá chít ở phần tiếp xúc với bánh vì lá chít không dính nên dễ bóc. Thiếu nữ làng tôi trước khi lấy chồng, cô nào cũng phải học gói bánh chưng, vì nó là một trong những điều bắt buộc để đánh giá “nữ công gia chánh”, do vậy các cô gái trẻ thường rất chủ động trong việc học hỏi các bà, các chị để làm sao gói được những chiếc bánh chưng hoàn hảo nhất truớc khi xuất giá.

Trong suốt buổi gói bánh, nhiều câu chuyện cổ tích được các bà, các mẹ kể cho con cháu nghe. Bao giờ cũng có chuyện sự tích bánh chưng, bánh dày; chuyện làm ruộng, chuyện xóm làng… những câu chuyện ấy được ngấm vào máu thịt những đứa trẻ, khiến chúng thêm yêu gia đình, yêu bố mẹ và làng xóm, và khi lớn lên, không đứa trẻ nào quên được những hình ảnh ấy.

Chiều ba mươi Tết thật nhộn nhịp và đầm ấm. Mâm cỗ tất nhiên cúng gia tiên được dọn lên bàn thờ. Đó là đĩa bánh chưng đuợc làm từ gạo nếp, trong hương thơm lừng có vị mặn của mồ hôi. Là đĩa trái cây hái từ vườn nhà, là nén hương nghi ngút mùi trầm được làm từ những bàn tay lam lũ… Cả nhà quây quần bên mâm cỗ Tết đậm chất quê thôn dã, giản dị, đơn sơ mà ấm cúng, hạnh phúc rạng ngời. Gia đình nào cũng ngồi tổng kết lại tất cả những gì đã và chưa làm được trong năm. Ông bà, cha mẹ căn dặn con cháu, ai có khuyết điểm sẽ phải sửa, ai có thành tích thì tiếp tục phát huy trong năm mới, để gia đình bình an, thịnh vượng.

Sáng mùng một, những đứa trẻ thông minh, sáng láng được chọn đi xông nhà, những lời chúc, tiếng cười râm ran từ những mái tranh còn thoảng những vệt khói, đường làng rộn rã những bước chân, tiếng bi bô con trẻ, tiếng chúc Tết của người lớn, những tấm áo mới xanh đỏ đủ màu của bọn trẻ làm cho không khí ngày Tết rộn ràng như những sắc hoa đào, hoa mai đang rực rỡ trong năng xuân.

Ngô Bá Lục

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s